Văn Học

Trang Chủ

tác giả theo mẫu tự


Trang Chủ
Tin Văn Học – Chung kết của giải thưởng National Book In bài này Gởi bài qua E-mail
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Hà   
16.10.2008


Vào lúc 12 giờ trưa giờ Đông Bắc Hoa Kỳ ngày 15 tháng Mười năm 2008, National Book Foundation tuyên bố danh sách tác giả và tác phẩm được chọn vào chung kết của giải thưởng National Book Awards năm 2008.

Trong năm 2008, hơn 200 nhà xuất bản với tổng số khoảng 1200 quyển sách đã được gởi đến National Book Foundation để tranh giải. Tổng số sách dự thi được chia theo bốn thể loại như sau:

Văn xuôi, 271 tác phẩm; Phê bình và Biên khảo, 540; Thơ, 108; và Văn học Trẻ, 274.

Mỗi thể loại sẽ có một tác giả được trao tặng giải thưởng. Phần thưởng cho người thắng giải gồm có mười ngàn đô la và một tượng bằng đồng. Các tác giả vào chung kết sẽ được tặng một ngàn đô la và một huy chương đồng. Giải thưởng sẽ được công bố vào ngày 19 tháng Mười Một năm 2008 ở New York.

Danh sách chung kết của các bộ môn gồm có:

Văn xuôi:

Aleksandar Hemon, The Lazarus Project (Riverhead)
Rachel Kushner, Telex from Cuba (Scribner)
Peter Matthiessen, Shadow Country (Modern Library)
Marilynne Robinson, Home (Farrar, Straus & Giroux)
Salvatore Scibona, The End (Graywolf Press)

Tóm tắt về năm tác phẩm:

The Lazarus Project, Đồ Án Lazarus, dựa vào một câu chuyện có thật. Ngày 2 tháng Ba, năm 1908, Lazarus Averbuch, một di dân người Do Thái Giáo ở Đông Âu, mười chín tuổi, vừa mới thoát khỏi một cuộc thảm sát tập thể ở làng Kishinev. Anh gõ cửa nhà của George Shippy, người cảnh sát trưởng của Chicago. Không biết việc gì đã xảy ra nhưng Shippy bắn chết Lazarus và tuyên bố anh ta là người phiến loạn. Alexsandar Hemon tưởng tượng một trăm năm sau có một người di dân gốc Bosnia, không phải Do Thái, tên là Brik muốn tìm biết chuyện gì đã xảy đến cho Lazarus. David Leavitt, nhà văn được vào vòng chung kết cho giải thưởng PEN/Faulkner, đã phê bình đây là “quyển tiểu thuyết đầy suy nghĩ, giọng văn khôi hài và kêu gọi tha thứ,” “có bố cục khéo léo,” và “không cho phép độc giả, nhất là độc giả Mỹ, chạy thoát những chiêm nghiệm về chiến tranh, một sự kiện cá nhân phải đương đầu và từ đó cá nhân sẽ thay đổi.”

Telex from Cuba, Điện tín từ Cuba, có một chủ đề đơn giản: đánh mất thơ ngây. Trong tác phẩm đầu tay, Kushner nối liền những cuộc đời khác nhau để diễn tả sự suy đồi về đạo đức, chính trị, và tình dục giữa bối cảnh Cuba vào những năm 1950. Câu chuyện xoay quanh một đứa trẻ, Everly, con của đôi vợ chồng người Mỹ sống sung túc ở Cuba trước thời Fidel Castro. Everly làm bạn với K.C. Stites có bố làm quản lý đồn điền mía. Câu chuyện trở nên ly kỳ tàn nhẫn qua lời kể của một cô vũ nữ khỏa thân với người tình Pháp bí mật. Fidel và Raul Castro và cựu Tổng thống Cuba Prio và Batista đều có dính líu vào những chuyện không hay qua lời văn bóng bẩy của Kushner.

Shadow Country, Miền Bóng Tối, nguyên thủy là bộ truyện gồm ba quyển dài 1300 trang, xuất bản từ năm 1990. Nhà văn lão thành, Peter Matthiessen, 81 tuổi đã thay đổi, sửa chữa và thu gọn, còn lại 890 trang được vào vòng chung kết giải National Book Award năm nay được xem như là cơ hội thứ hai, không phải ai cũng có. Đây là câu chuyện của Edgar Watson, năm 1898, trở nên nổi tiếng vì đã giết một người đàn bà sống ngoài vòng pháp luật tên là Bella Starr. Là một người giàu có, năm vợ, mười người con, ông bị một nhóm người láng giềng bắn 33 phát súng vào người khi ông chỉa súng vào họ. Ông bị nghi ngờ khi có vài vụ giết người xảy ra trong đất của ông. Thể theo lời nhận xét của Tom LeClair, “Miền Bóng Tối,” so với bộ truyện ba tập nguyên thủy, “cũng như con đường mòn Tamiami chạy ngang Everglades. Nó cho chúng ta con đường thoát khỏi đầm lầy nhanh hơn và dễ hơn nhưng cũng mất đi ít nhiều bóng mát và hồn ma bóng quế.”

Home, Quê Nhà, là tác phẩm của Marilyn Robinson, người đoạt giải thưởng Pulitzer với tác phẩm Gilead. Gilead nói về John Ames một nhà giảng đạo ở Iowa dưới hình thức những lá thư ông viết cho cậu bé con trai của ông chỉ được phép đọc khi ông qua đời. Ông nói về tình yêu và những giận hờn ghét bỏ với người thân, suốt một đời ông tự hỏi về tính chất của Chúa, và sự trở về của một người tên là Gilead, với ông vừa là một sự thử thách vừa là một sự học hỏi. Trong tác phẩm Quê Nhà, trở về nơi cũ vào thời gian ấy dưới cái nhìn của Jack Boughton và người em/chị gái 38 tuổi vừ bị thất bại trong tình trường. Họ trở về để săn sóc người cha Mục Sư Boughton đang sắp chết. Đây là một câu truyện về tình yêu và tha thứ.

The End, Cuối Cùng, là tác phẩm đầu tay của Salvator Scibona. Quyển sách nói về một người đàn ông nhỏ nhắn, tính khó chịu vừa nhận được tin đau lòng. Con trai của ông chết trong trại tù binh ở Korea. Ông ấy tên là Rocco LaGrassa. Ngày hôm ấy 15 tháng Tám, 1953, có một hội chợ huyên náo đang diễn ra ở Elephant Park (Công viên Voi) nơi nhiều người Ý di dân sống. Cuộc đời vất vả, những năm dài yêu thương con, và niềm tin vào Chúa của Rocco đang sụp đổ. Cũng trong ngày hôm ấy giữa hội chợ, tác giả sẽ cho chúng ta gặp rất nhiều người và theo họ từ hiện tại qua quá khứ suốt bảy chục năm –người phá thai già, người thợ may màn sống động, chú bé trai vị thành niên, nhà kim hoàn – và đi vào trái tim của một tội ác đã làm thay đổi rất nhiều cuộc đời. Chúng ta sẽ nhìn thấy cuộc đời di dân, sự phản bội của người trong gia đình, những thù nghịch chủng tộc qua cái nhìn của họ và mỗi người phải tự tìm thấy kết luận riêng.

Phê bình và biên khảo:

Drew Gilpin Faust, This Republic of Suffering: Death and the American Civil War (Alfred A. Knopf)
Annette Gordon-Reed, The Hemingses of Monticello: An American Family
(W.W. Norton & Company)
Jane Mayer, The Dark Side: The Inside Story of How the War on Terror Turned into a War on American Ideals (Doubleday)
Jim Sheeler, Final Salute: A Story of Unfinished Lives (Penguin)
Joan Wickersham, The Suicide Index: Putting My Father’s Death in Order (Harcourt)

Thơ:

Frank Bidart, Watching the Spring Festival (Farrar, Straus & Giroux)
Mark Doty, Fire to Fire: New and Collected Poems (HarperCollins)
Reginald Gibbons, Creatures of a Day (Louisiana State University Press)
Richard Howard, Without Saying (Turtle Point Press)
Patricia Smith, Blood Dazzler (Coffee House Press)

Văn học Trẻ:

Laurie Halse Anderson, Chains (Simon & Schuster)
Kathi Appelt, The Underneath (Atheneum)
Judy Blundell, What I Saw and How I Lied (Scholastic)
E. Lockhart, The Disreputable History of Frankie Landau-Banks (Hyperion)
Tim Tharp, The Spectacular Now (Alfred A. Knopf)

Ngoài những bộ môn kể trên, còn có năm nhà văn được chọn vào nhóm “dưới 35 tuổi.” Các nhà văn này sẽ được đọc một phần trích trong tác phẩm của họ cho giới văn học thưởng lãm.

Dưới 35 tuổi:

Matthew Eck, The Farther Shore, (Milkweed Editions, 2007)

Keith Gessen, All the Sad Young Literary Men, (Viking Press, 2008)

Sana Krasikov, One More Year: Stories, (Spiegel & Grau, 2008)

Nam Le, The Boat, (Knopf, 2008)

Fiona Maazel, Last Last Chance, (FSG, 2008)

Tổng hợp từ:

Nationalbook

Washingtonpost

The New York Times

Seattletimes

Trang Web Salvatore_Scibona


Nguyễn Thị Hải Hà
Đôi dòng về tác giả:
 

Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật • Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions

Truy cập bài vở

Web Da Màu bộ cũ

Truyện Ngắn

Login (BBT Only)






© 2014 tạp chí văn chương damau.org - bộ cũ